Thứ hai, 01/08/2011     

Phiên bản Mobi I Tỷ giá I Thời tiết  

Mới - nóng
Trung Quốc đóng tàu sân bay để nghiên cứu khoa học?
Quốc hội khoá XIII: Kỳ vọng mới từ những ngày đầu tiên
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc
Hoàng Sa-Trường Sa do ai khám phá đầu tiên?
Quốc tế phản đối “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch cổ Trung Quốc

Chủ quyền Trường Sa- Hoàng Sa sau thế chiến thứ II
Cập nhật lúc 07h00" , ngày 01/08/2011 -

 

(VnMedia)- Cách mạng tháng 8 thành công, lẽ ra ngay lập tức quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa phải ngay lập tức thuộc về Việt Nam. Song với nhiều “khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn phải vượt qua nhiều thách thức...

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945 do Chính phủ Hồ Chí Minh lãnh đạođã chấm dứt thời kỳ Pháp thuộc và sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Điều đó khiến cho các cơ sở pháp lý của những hiệp ước do nhà Nguyễn ký kết với Pháp trước đây không còn hiệu lực nữa. Chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lẽ ra phải ngay lập tức thuộc về nhân dân Việt Nam. Song với nhiều “khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn phải vượt qua nhiều thách thức. Mặc dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, người Việt Nam vẫn luôn khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo này và luôn được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

 

 Ảnh minh họa

 Hội nghị San Francisco năm 1951 tại Hoa Kỳ


Ngày 28/2/1946, một hiệp ước Pháp – Trung được ký ở Trùng Khánh cho phép Pháp thay thế quân đội Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam. Nhưng ngay sau đó, Chính phủ Hồ Chí Minh ký kết với các Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946. Theo Hiệp định này, nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thành viên của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, việc thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 gặp vô vàn khó khăn. Từ tháng 12/1946, chiến sự mở rộng ra khắp nơi.

 

Trong lúc Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận rộn đối phó với những hành động gây hấn ngày càng leo thang của quân đội viễn chinh Pháp, ngày 26/10/1946 một hạm đội của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội cảnh vệ độc lập của hải quân xuất phát từ cảng Ngô Tùng. Ngày 29/11/1946, các chiến hạm Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Phú Lâm (Woody) ; chiến hạm Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc gọi là Đoàn Sa, chưa phải là Nam Sa). Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp này của Trung Hoa Dân Quốc và ngày 17/10/1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được điều tới Hoàng Sa để yêu cầu quân lính của Tưởng Giới Thạch phải rút khỏi các đảo, nhưng quân Tưởng đã không thực hiện theo yêu cầu. Pháp tiếp tục gởi thêm một phân đội lính trong đó có cả quân lính của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đến trú đóng trên đảo Hoàng Sa (Pattle).

 

 Ảnh minh họa

 Thủ tướng Nhật Bản Yoshida Shigeru ký Hòa ước San Francisco 1951


Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25/2 đến ngày 4/7/1947 tại Paris. Cuộc đàm phán thất bại vì Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề do phía Pháp đề xuất. Điều này cho thấy phía Trung Quốc ngay từ thời Tưởng Giới Thạch đã rất không muốn quốc tế hoá vấn đề Biển Đông, vì chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của họ sẽ không thể thuyết phục được ainếu buộc phải chứng minh trước trọng tài hay tòa án quốc tế.Ngày 1/12/1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch đơn phương công bố tên Trung Quốc cho hai quần đảo và tự đặt hai quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc.


Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào Hòa ước Giáp Thân (1884) song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, nên về ngoại giao Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam trong việc chống lại sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng lên Chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu để củng cố các cơ sở hình thức về pháp lý cho một bộ máy hành chính quốc gia của người Việt Nam để thuận tiện cho Pháp trong các quan hệ đối nội, đối ngoại nhân danh quốc gia Việt Nam. Trên thực tế, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp làm chủ tình hình trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 4/1949, Đổng lý Văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 Ảnh minh họa

 Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu ký vào các văn kiện của Hòa ước San Francisco (1951) sau khi tuyên bố khẳng địnhchủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Ngày 1/10/1949, nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Đài Loan. Tháng 4-1950, tất cả quân lính của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Phú Lâm (Woody), thuộc quần đảo Hoàng Sa phải rút lui. Còn lính Pháp và lính quốc gia Việt Nam ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn tiếp tục đồn trú. Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Tuyên bố công khai đầu tiên của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Chu Ân Lai ngày 15/8/1951, ba tuần trước khi diễn ra Hội nghị San Francisco. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi Hội nghị theo thỏa hiệp giữa một bên là Mỹ và Anh còn một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau rằng Trung Quốc hay Đài Loan được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Ngoại trưởng Chu Ân Lai cho rằng Trung Quốc “có chủ quyền không thể xâm phạm” đối với các đảo và quần đảo trên Biển Đông, nhưng không đưa ra được bất kỳ bằng chứng lịch sử hay cơ sở pháp lý đáng kể nào và tất nhiên không được cộng đồng quốc tế thừa nhận yêu sách này.

 

 Ảnh minh họa

 Bức tượng Vệ sĩ dân chài trên đảo Hoàng Sa đứng ở phía Tây Nam đảo Hoàng Sa, có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835 đã tìm thấy và ghi chép lại trong chính sử.


Từ ngày 5 đến ngày 8/9/1951, các nước Đồng Minh trong Thế chiến thứ II tổ chức hội nghị ở San Francisco (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Hòa ước San Francisco ghi rõ Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền lợi và tham vọng với hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa). Hòa ước cũng phủ nhận việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía Nam. Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến của 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Việt Nam.

 

“Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm móng tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, ông Hữu nói. Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự. Việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn này tham dự Hội nghị San Francisco và tuyên bố chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

 Ảnh minh họa

 Bia chủ quyền Việt Nam trên đảo Hoàng sa thời kỳ Pháp thuộc


Trong thời kỳ này, các đại diện của người Việt Nam luôn tìm cách khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam mỗi khi có cơ hội về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các nhà chức trách Pháp từng cho thấy điều này trong một bức điện gửi Bộ Ngoại giao ngày 23/4/1949 trong đó nói rằng Đổng lý Văn phòng của Bảo Đại, trong một cuộc họp báo do ông này tổ chức đã gây ra một vụ tranh cãi lớn về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Tác giả bức điện là ông Pignon giải thích là đã phải bảo đảm rằng Phủ Cao ủy Sài Gòn luôn“coi các đảo Hoàng Sa như một bộ phận phụ thuộc vào vương quyền Việt Nam” và ông sẽ ủng hộ quan điểm của Việt Nam trong cuộc tranh chấp này. Như vậy, ý chí của người Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã luôn được nhấn mạnh thường xuyên trong suốt thời kỳ lịch sử đầy biến động và phức tạp này.

 

Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng muộn nhất từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền của người Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX, những hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương thay mặt triều đình nhà Nguyễn gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu theo đúng tập quán quốc tế cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến giữa thế kỷ XX, tuy một số đảo của Hoàng Sa và Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như các chính quyền không tham dự bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo và Tuyên bố Potsdam.

 

Ngay trước khi kết thúc chiến tranh, qua Tuyên cáo Cairo năm 1943 được công bố ngày 1/12/1945 các nguyên thủ các chính phủ Mỹ, Trung Quốc và Anh “thông báo rằng họ trù định giành lại của Nhật Bản tất cả các đảo ở Thái Bình Dương đã bị nước này cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ khi khởi sự Chiến tranh thế giới thứ nhất và trả lại Trung Hoa Dân Quốc tất cả các lãnh thổ đã bị Nhật Bản cướp của Trung Hoa, như là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ và trục xuất Nhật Bản khỏi tất cả các lãnh thổ khác mà Nhật đã chiếm được bằng vũ lực”. Tất nhiên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc các lãnh thổ khác. Tuyên cáo Cairo nhằm loại Nhật Bản ra khỏi các vùng lãnh thổ khác đó.

 

“Lãnh thổ khác” trong tuyên cáo Cairo không phải Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, các quần đảo thuộc “lãnh thổ khác” này không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật Bản cướp đoạt trong chiến tranh đã được các nước họp với nhau yêu cầu trả lại cho Trung Quốc. Bản thân Trung Quốc là một bên tham gia bản tuyên cáo, khi đó Tưởng Giới Thạch luôn có mặt tại các cuộc hội đàm kéo dài nhiều ngày ở Cairo.

 

Thế nhưng Trung Quốc không hề nói tới các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa trong Tuyên cáo Cairo năm 1943. Điều này chắc chắn không phải là sự thiếu sót, không không phải là kết quả của một sự tình cờ, mà rõ ràng vào lúc này Trung Quốc không hề có ý định yêu sách chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như vậy sự quan tâm và sự đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo này trên Biển Đông vào thời điểm đó chưa thật sự rõ ràng. Dù sao, trong một hội nghị lớn của cộng đồng thế giới về phân chia lãnh thổ trong đó có các đảo trên Biển ĐôngTrung Quốc đã không hề đưa ra yêu sách nào về chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa năm 1943. Trong khi đó, cho đến thời điểm nàytrong nhiều cuộc tranh cãi pháp lý Pháp chưa bao giờ công nhận cho Trung Quốc các quyền đối với các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa và trong nhiều trường hợp Pháp đã đề nghị đưa tranh chấp này ra trước tòa án quốc tế.

 

Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco rõ ràng là sự tái lập, tái khẳng định một sự thật lịch sử đã có từ lâu đời và nay vẫn đang tiếp diễn. Hơn nữa, Hội nghị Geneve năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tiếp tục tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Nhóm PV VnMedia

Hoàng Sa-Trường Sa do ai khám phá đầu tiên?
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch cổ Trung Quốc
Tài liệu phương Tây ghi nhận chủ quyền biển Đông của Việt Nam
Việt Nam thực thi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII
Hoàng Sa, Trường Sa được người Việt khám phá
Hoàng Sa - Trường Sa: Khối thống nhất về địa lý và chủ quyền Việt Nam
Việt Nam với chủ quyền Hoàng Sa -Trường Sa

Các tin khác:
    Trung Quốc đóng tàu sân bay để nghiên cứu khoa học?(31/07/2011)
    Quốc hội khoá XIII: Kỳ vọng mới từ những ngày đầu tiên(30/07/2011)
    Còn nhiều thử thách ở phía trước(30/07/2011)
    Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc(26/07/2011)
    Hoàng Sa-Trường Sa do ai khám phá đầu tiên?(24/07/2011)
    Quốc tế phản đối “đường lưỡi bò” của Trung Quốc(22/07/2011)
    Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch cổ Trung Quốc(22/07/2011)
    Chủ động, linh hoạt trong công tác đối ngoại nhân dân(20/07/2011)
    Tài liệu phương Tây ghi nhận chủ quyền biển Đông của Việt Nam(19/07/2011)
    Chủ quyền biển đảo nhìn từ "Vọng hải đài"(18/07/2011)
 Đọc nhiều nhất
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch cổ Trung Quốc
Quốc tế phản đối “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
Việt Nam với chủ quyền Hoàng Sa -Trường Sa
Trung ương Đảng xem xét giới thiệu nhân sự cấp cao
Hải quân Việt Nam - Hoa Kỳ không tập trận chung
Bước nhảy Hoàn vũ - "Tò vò mà nuôi con nhện!"
Tài liệu phương Tây ghi nhận chủ quyền biển Đông của Việt Nam
Hoàng Sa, Trường Sa được người Việt khám phá
Hoàng Sa-Trường Sa do ai khám phá đầu tiên?
Lửng lơ “số phận” 3 cầu vượt giữa Thủ đô
Phản hồi nhiều nhất
VNA và HLV “bị đánh”: Rối ren vì cố chấp?! (33)
Cảnh sát - Người dân: Ai hư và ai làm hư ai? (10)
Ngày 1/6: Nhớ lại tuổi thơ... không chọn số phận (9)
Vụ HLV “bị đánh”: Báo chí được gì mất gì!? (8)
Quan chức Trung Quốc "thanh minh" vụ tàu Hải giám (8)
Nhức nhối cái chết đầu tiên vì đình công (8)
Bi hài ngộ nhận: "Con cái chúng ta giỏi quá!" (7)
Giám sát xử phạt vi phạm giao thông bằng camera (6)
Đối đầu hay đối thoại? (5)
Thất bại quản lý đừng đổ cho ý thức người dân (5)


© 2004-2011 Báo điện tử VnMedia - Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 942/GP-BTTTT ngày 08/07/2009
Tổng biên tập: Võ Quốc Trường
Địa chỉ: Tầng 5, tòa nhà 142 Lê Duẩn, Quận Đống Đa, Hà Nội  
Ban thư ký: 04-3793 1744 Fax: 04-3793 0508 - Đường dây nóng: 04-3516 17 03/ 0912 776 998; YM:
Liên hệ quảng cáo: 04-3793 0612