Khuất tất giải phóng mặt bằng dự án tái định cư phường Cự Khối, Long Biên

06:20, 06/03/2019
|

  - 13 hộ dân thuộc diện bị thu hồi đất để phục vụ dự án xây dựng Xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ tái định cư tại ô quy hoạch C3-6/LX8,tổ 13, phường Cự Khối, Long Biên vừa có đơn khiếu nại gửi cơ quan báo chí về những khuất tất trong công tác giải phóng mặt bằng.

Khu đất của ác hộ dân tổ 13, phường Cự Khối, Long Biên
Khu đất của ác hộ dân tổ 13, phường Cự Khối, Long Biên

Theo đó, năm 2013, UBND quận Long Biên đã ra quyết định thu hồi toàn bộ diện tích đất của các hộ dân thuộc tổ 13 và 3794 nhân khẩu thổ khối Xuân Hạ, 20 hộ dân ở ao vực, phường Cự Khối để phục vụ dự án.

Liên tiếp tháng 9,10/2015, các hộ dân này tiếp tục nhận được quyết định về việc cưỡng chế thu hồi đất của UBND quận Long Biên. Trong khi đó, theo phản ánh của bà con, các quyết định thu hồi đất của UBND quận Long Biên còn tồn tại nhiều dấu hiệu khuất tất, trái với quy định của pháp luật.

Bà N.T.V (người dân mất đất) cho biết, toàn bộ diện tích đất của 13 hộ dân đều có nguồn gốc đất thổ cư do ông cha để lại, không phải nông nghiệp. Hàng năm, người dân đều kê khai trong sổ mục kê, các hộ gia đình chúng tôi sử dụng liên tục, ổn định và không có tranh chấp gì, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật về đất đai.

Bên cạnh đó, theo bản đồ của UBND tỉnh Bắc Ninh năm 1974 thì toàn bộ diện tích đất mà UBND quận Long Biên thu hồi cũng được thể hiện là các ô thửa rõ ràng. Tuy nhiên, UBND quận Long Biên trong các cuộc họp với các hộ dân bị thu hồi đất lại dùng bản đồ năm 1993, không thể hiện các ô thửa đất như bản đồ năm 1974 (Bản đồ năm 1974 hiện được lưu giữ tại phường Cự Khối).

Nghiêm trọng hơn, các cán bộ giải phóng mặt bằng đã tạo dựng hồ sơ sai sự thật trên diện tích đất 5.042m2 của các hộ dân của cha ông để lại thành một cái ao không có trong thực tế. Điều này được chứng minh trong bản đồ sổ mục kê năm 1974 không có ao 5.042 m2 ,  trong thực tế cũng không hề có ao nào như vậy.

Theo ông Nguyễn Đăng Hoán, nguyên cán bộ địa chính xã Cự Khối giải đoạn 1993-2000 xác nhận, việc lập bản đồ năm 1993 gộp các ô nhỏ thành ao có diện tích 5.042m2 là không đúng thực tế sử dụng đất.

Điều này căn cứ vào tài liệu đo vẽ bản đồ năm 1993 có thể hiện việc xác nhận diện tích đất trong sổ ký nhận diện tích, khớp lô thửa tên bản đồ và sổ mục kê được Sở Tài nguyên và môi trường lưu giữ.

Xét về sử dụng đất thực tế, theo các ý kiến của cán bộ địa chính qua các thời kỳ đều cho thấy việc sử dụng đất của các hộ dân ở đây đã có một quá trình từ trước thời điểm kê khai sử dụng đất theo Chỉ thị 299/CT năm 1985-1986, các hộ dân đã cải tạo đào đắp thành lũy canh tác, một số hộ kê khai theo Chỉ thị 299, có trong sổ mục kê năm 1986, có nộp thuế với nhà nước, có hậu khẩu tại nơi cư trú.

Mặt khác các cấp chính quyền xã, phường, quận không có tài liệu nào chứng minh sự quản lý đất ao kể cả trước năm 1993 và sau năm 1993 khi có bản đồ, như cho thuê, thầu, hoặc ngăn cản, xử lý vi phạm sử dụng đất.

Thực tế các hộ vẫn quản lý sử dụng ổn định không tranh chấp từ những năm 1980 đến nay, do vậy việc xác nhận thời điểm sử dụng đất của một số hộ dân sử dụng đất sau 1993 đến trước 2004 của UBND phường Cự Khối là chưa đủ cơ sở, bản đồ năm 1993 thể hiện đất ao 5.042m2 do Hợp tác xã quản lý là không phù hợp với thực tế sử dụng đất.

Theo ông Ngô Văn Nam - Phó Chủ tịch UBND phường Cự Khối, Khu đất của người dân đang sử dụng ngày xưa là cái ao, bờ tre. Thời kỳ cải cách thì phần bờ các hộ vẫn trồng tre, sau đó các ao Hợp tác xã cho thầu thả cá. Tuy nhiên, khi tiếp nhận hồ sơ địa chính, toàn bộ giấy tờ của hợp tác xã liên quan đến khu vực ao đều thất lạc. Do vậy đến khi giải phóng mặt bằng thì chỉ có căn cứ là các tờ bản đồ 1993, 1997, sổ mục kê. Sau khi người dân có kiến nghị, Thanh tra Chính phủ đã vào cuộc và có kết luận. Vì vậy, việc đền bù giải phóng mặt bằng phải căn cứ theo kết luận của Thanh tra Chính phủ.

Khánh An


Ý kiến bạn đọc